Sergio Agüero – Wikipedia tiếng Việt


Sergio Agüero

Sergio Agüero 2018.jpg

Agüero thi đấu cho Argentina trong trận gặp Iceland tại World Cup 2018

Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ
Sergio Leonel Agüero Del Castillo[1]
Ngày sinh
2 tháng 6, 1988 (30 tuổi)[1]
Nơi sinh
Buenos Aires, Argentina[2]
Chiều cao
1,72 m (5 ft 8 in)[3][4]
Vị trí
Tiền đạo
Thông tin về CLB

CLB hiện nay


Manchester City
Số áo
10
CLB trẻ
1997–2003
Independiente
CLB chuyên nghiệp*
Năm
Đội

ST

(BT)
2003–2006
Independiente

54

(23)
2006–2011
Atlético Madrid

175

(74)
2011–
Manchester City

206

(143)
Đội tuyển quốc gia
2004
U17 Argentina

5

(3)
2005–2007
U20 Argentina

7

(6)
2008
U-23 Argentina

5

(2)
2006–
Argentina

89

(39)

  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 8 tháng 4 năm 2018.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).


‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 26 tháng 6 năm 2018

Sergio Leonel "Kun" Agüero del Castillo (sinh 2 tháng 6 năm 1988 tại Quilmes, Buenos Aires) là một cầu thủ bóng đá Argentina, chơi ở vị trí tiền đạo, hiện đang khoác áo Manchester City. Anh có biệt danh là Kum Kum khi các bạn học thấy rằng Agüero có mái tóc giống như nhân vật truyện tranh của Nhật Bản "Kum Kum" [5].





Independiente[sửa | sửa mã nguồn]


Agüero có trận đấu đầu tiên ở Giải hạng Nhất Argentina trong màu áo câu lạc bộ Independiente, trở thành cầu thủ trẻ nhất thi đấu tại giải vô địch Argentina khi mới 15 tuổi 35 ngày (7 tháng 7 năm 2003, gặp Club Atlético San Lorenzo), phá kỷ lục của huyền thoại Diego Maradona.[6]


Atlético Madrid[sửa | sửa mã nguồn]


Với những màn trình diễn thuyết phục, Đặc biệt trong giải Mở của mùa bóng 2005, ngôi sao trẻ đã thu hút được sự chú ý của một số câu lạc bộ hàng đầu châu Âu.

Vào tháng 4 năm 2006, có tin cho rằng Atlético Madrid đã "có được chữ ký của tiền đạo Independiente, Sergio Agüero từ 1 cuộc chuyển nhượng bất ngờ" [7].Cùng ngày, Independiente đã phủ nhận thông tin này, tuy nhiên chính Agüero sau đó đã tuyên bố trên truyền hình Argentina "Mặc dù tôi vẫn không rõ điều gì xảy ra với mình, nhưng đây có thể là bàn thắng và trận đấu cuối cùng cho Independiente"[8].

Ngày 29 tháng 5 năm 2006, 1 thông báo tại một cuộc họp báo được đưa ra, Atlético Madrid đã hoàn tất hợp đồng với tiền đạo trẻ tuổi này với một mức giá không công bố, ước lượng khoảng 20 triệu € [9].

Ngày 31 tháng 5 năm 2006, Atlético Madrid khẳng định Agüero đã ký 1 hợp đồng 6 năm với câu lạc bộ sau khi thỏa thuận được mức phí chuyển nhượng là 20 triệu euro với Independiente[10].Agüero trở thành cầu thủ đắt giá nhất câu lạc bộ.

Ngày 13 tháng 12 năm 2006, Atlético chơi trận đấu ở Cúp Nhà vua Tây Ban Nha gặp Levante. Họ thua ở lượt đi trên sân nhà 0–1. Cho đến phút thứ 91 của trận lượt về tỷ số vẫn chưa được mở, đồng nghĩa với việc Atlético sẽ bị loại. Thế nhưng với cú sút của Agüero qua người thủ môn của Levante ở góc hẹp đã cân bằng tỉ số, đưa 2 đội vào thi đấu hiệp phụ. Cuối cùng Atlético đã giành chiến thắng trên chấm phạt đền với tỉ số 4–2, với chính Agüero sút quả sút luân lưu cuối cùng, ấn định tỉ số.

1 bàn thắng quan trọng khác là bàn gỡ hòa 1–1 tại Nou Camp trước đại kình địch Barcelona. Đó là bàn thắng thứ năm của Agüero cho câu lạc bộ và bàn thứ 4 tại La Liga.

Trong mùa giải ra mắt thành công tại Atlético, Agüero thường được đá cặp với đồng đội Fernando Torres. Mùa giải tiếp theo 2007-08, anh và Diego Forlán trở thành một trong những cặp tấn công hiệu quả nhất tại châu Âu. Kết thúc mùa giải này Agüero là tay săn bàn nhiều thứ 3 tại La Liga với 20 bàn. Anh còn giành được giải thưởng Antonio Puerta cho cầu thủ xuất sắc nhất mùa bóng.


Manchester City[sửa | sửa mã nguồn]


Ngày 28 tháng 7 năm 2011, Manchester City xác nhận Agüero đã ký vào bản hợp đồng 5 năm với đội bóng. Mức phí được báo cáo vào khoảng 38 triệu £ (45 triệu €, 60 triệu $). Anh được trao số áo 16 trong mùa giải đầu tiên tại Man City với tên áo Kun Agüero.

Anh ghi bàn thắng quyết định mang lại chức vô địch ngoại hạng Anh cho Manchester City mùa giải 2011-2012. Ở mùa giải 2013-2014, anh đã lập 1 cú đúp trong trận thắng 4-1 trước Manchester United và sau đó Aguero cũng đã cùng Manchester City vô địch mùa bóng 2013-14 với thành tích 86 điểm và hơn đội á quân Liverpool 2 điểm, còn bản thân anh tuy hay chấn thương nhiều ở mùa đó nhưng anh cũng kịp ghi được 17 bàn thắng và kiến tạo 6 lần cho đồng đội lập công. Anh cùng câu lạc bộ giành được cú đúp danh hiệu: Ngoại hạng Anh và Cúp Liên đoàn anh vào mùa bóng thành công 2013-14 đó. Aguero dù chấn thương nhưng vẫn là chân sút hàng đầu của man city trên mọi mặt trận với 28 bàn thắng cùng 9 đường chuyền thành bàn chỉ sau hơn 30 lần ra sân. Trở lại với mùa bóng 2014-15, anh đã có được 17 bàn thắng sau 18 lần ra sân trên 3 mặt trận gồm: Ngoại hạng Anh, Cúp Liên đoàn và Champions League.

Vào ngày 12 tháng 4 năm 2015, trong trận derby Manchester mà Man City thua Man United với tỉ số 4–2 tại Old Trafford, Aguero đã ghi 2 bàn thắng thứ 99 và 100 cho câu lạc bộ Manchester City, gia nhập "nhóm 100" của làng bóng đá châu Âu.

Vào ngày 11/2 anh lập poker giúp đội nhà vùi dập Leicester 5-1.



Agüero được gọi vào đội tuyển Argentina lần đầu tiên trong trận giao hữu với Brasil thi đấu tại Sân vận động Emirates của Arsenal vào 3 tháng 9 năm 2006.

Anh từng khoác áo Argentina tham dự 3 kì Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới. Cùng với các đồng đội trong đội hình giành huy chương vàng Olympics 2008 như Fernando Gago của Real Madrid và Lionel Messi của Barcelona, họ đoạt chức vô địch Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới 2005 tại Hà Lan.

Tại Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2007 tại Canada, Agüero ghi 2 bàn và góp công ở 3 bàn còn lại trong trận thắng 6-0 trước Panama ở trận thứ hai vòng bảng. Anh ghi bàn duy nhất trong trận thắng Bắc Triều Tiên bằng một cú sút phạt ở trận cuối vòng bảng. Ở vòng 16 đội, Agüero ghi 2 trong 3 bàn ở trận thắng Ba Lan. Trong trận chung kết gặp Séc, anh được đeo băng đội trưởng và có bàn thắng gỡ hoà 1-1 cho Argentina để cuối cùng đội nhà thắng chung cuộc 2-1, giành chức vô địch. Agüero giành danh hiệu Chiếc giày vàng (Vua phá lưới) của giải với 6 bàn, cùng danh hiệu Quả bóng vàng (Cầu thủ xuất sắc nhất giải).

Là thành viên của đội tuyển Olympic Argentina tại Olympic Bắc Kinh 2008, Agüero đã ghi 2 bàn thắng trong trận bán kết với Brasil vào 19 tháng 8 năm 2008.

Anh được huấn luyện viên Diego Maradona triệu tập tham dự World Cup 2010 tổ chức tại Nam Phi, đây cũng là giải đấu quốc tế đầu tiên trong sự nghiệp của anh. Tại giải đấu này, anh không ghi được bàn thắng nhưng đã thi đấu xuất sắc giúp Argentina lọt vào tứ kết nhưng để thua chung cuộc trước cỗ xe tăng Đức với tỉ số 0-4.

Tại Copa América 2011 tổ chức tại quê nhà Argentina, ở lượt trận đầu tiên bảng A gặp Bolivia, Agüero ghi bàn thắng gỡ hòa 1-1 để thoát khỏi trận thua trong ngày khai mạc giải đấu. Ở lượt trận cuối gặp Costa Rica, Agüero lập cú đúp giúp Argentina vượt qua Costa Rica với tỉ sổ 3-0. Đội tuyển Argentina sau đó lọt vào tứ kết nhưng thất bại trước Uruguay (đội sau đó đăng quang) với tỉ số 4-5 ở loạt đá penalty sau khi hai đội hòa 0-0 trong suốt 120 phút thi đấu.

Anh tiếp tục được huấn luyện viên Alejandro Sabella triệu tập tham dự World Cup 2014 tại Brasil, ở giải đấu này, anh không ghi được bàn thắng nào nhưng là một trong những cầu thủ thi đấu xuất sắc nhất giúp Argentina lọt vào trận chung kết và giành ngôi á quân sau khi để thua Đức với tỉ số 0-1.

Tại Copa América 2015 tổ chức tại Chile, ở lượt trận thứ hai gặp Paraguay, Agüero ghi bàn thắng mở tỉ số ở giải đấu này nhưng sau đó để đối thủ cầm chân với tỉ số 2-2. Ở lượt trận thứ hai gặp Uruguay, anh chỉ ghi một bàn thắng duy nhất trong trận thắng 1-0 trước Uruguay, giải đấu mà tiền đạo Luis Suárez bên phía đối phương không được tham dự giải đấu này do chịu án phạt cấm thi đấu 1 năm cho đội tuyển quốc gia Uruguay bởi FIFA vì hành vi cắn vào vai hậu vệ Giorgio Chiellini của Ý ở World Cup 2014. Ở vòng bán kết, Agüero ghi được một bàn thắng trong trận thắng đậm 6-1 trước Paraguay giúp Argentina lọt vào trận chung kết và thất bại trước chủ nhà Chile với tỉ số 1-4 bằng loạt đá penalty sau khi hai đội hòa 0-0 trong suốt 120 phút thi đấu chính thức.

Tại Copa América Centenario tổ chức tại Hoa Kỳ, ở lượt trận thứ hai gặp Panama, Agüero ghi bàn thắng quyết định giúp Argentina vượt qua đối thủ với tỉ số đậm 5-0. Đội tuyển Argentina sau đó lọt vào trận chung kết thứ hai liên tiếp và lặp lại thành tích tương tự như Copa América 2015, dù Agüero thực hiện thành công quả penalty thứ hai.

Anh tiếp tục được huấn luyện viên Jorge Sampaoli triệu tập tham dự World Cup 2018 tổ chức tại Nga. Ở lượt trận đầu tiên gặp tân binh Iceland, Agüero là người bàn thắng mở tỉ số trước nhưng sau đó để đối thủ cầm chân với tỉ số 1-1. Anh tiếp tục ra sân trong 2 trận còn lại gặp Croatia và Nigeria, giúp đội tuyển Argentina đứng nhì bảng D với 4 điểm, lọt vào vòng 16 đội nhưng để thua Pháp với tỉ số 3-4, trong đó Agüero ghi bàn thắng cuối cùng ở những phút bù giờ cuối cùng.




Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]


Số liệu thống kê chính xác tới ngày 10 tháng 4 năm 2018.[11]












































































































































































































































Câu lạc bộ
Mùa giải
Giải đấu
Cúp quốc gia[note 1]Cúp liên đoàn
Châu lục[note 2]Khác[note 3]Tổng cộng
Hạng
Số lần ra sân
Số bàn thắng
Số lần ra sân
Số bàn thắng
Số lần ra sân
Số bàn thắng
Số lần ra sân
Số bàn thắng
Số lần ra sân
Số bàn thắng
Số lần ra sân
Số bàn thắng
Independiente
2002–03[12]Argentine Primera División
100010
2003–04[13]502070
2004–05[14]12500125
2005–06[15]3618003618
Tổng cộng
5423205623
Atlético de Madrid
2006–07[16]La Liga
3864100427
2007–08[17]371942965027
2008–09[18]371710944721
2009–10[19]3112711665419
2010–11[20]32204343114127
Tổng cộng
17574207381911234101
Manchester City
2011–12[21]Premier League
34231131105004830
2012–13[22]3012430052104017
2013–14[23]23173421663428
2014–15[24]3326101076004232
2015–16[25]30241142924429
2016–17[26]31205510884533
2017–18[27]25213243743930
Tổng cộng
2061431816157523310292199
Tổng cộng sự nghiệp
4352403823157925221582323
Chú thích

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]


Số liệu thống kê chính xác tới 30 tháng 6 năm 2018.






























Argentina
NămSố lần ra sânSố bàn thắng
200620
200741
200894
200962
201052
201185
201272
201385
2014101
20151010
2016111
201743
201885
Tổng cộng8939

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]


Số liệu thống kê chính xác tới 30 tháng 6 năm 2018. Scores and results list Argentina's goal tally first.[28]























































































































































































































#NgàyĐịa điểmĐối thủBàn thắngKết quảGiải đấu
117 tháng 11 năm 2007Sân vận động Monumental Antonio Vespucio Liberti, Buenos Aires, Argentina Bolivia1–03–0Vòng loại World Cup 2010
226 tháng 3 năm 2008Sân vận động quốc tế Cairo, Cairo, Ai Cập Ai Cập1–02–0Giao hữu
34 tháng 6 năm 2008Sân vận động Qualcomm, San Diego, Hoa Kỳ México4–14–1Giao hữu
46 tháng 9 năm 2008Sân vận động Monumental Antonio Vespucio Liberti, Buenos Aires, Argentina Paraguay1–11–1Vòng loại World Cup 2010
511 tháng 10 năm 2008Sân vận động Monumental Antonio Vespucio Liberti, Buenos Aires, Argentina Uruguay2–02–1Vòng loại World Cup 2010
628 tháng 3 năm 2009Sân vận động Monumental Antonio Vespucio Liberti, Buenos Aires, Argentina Venezuela4–04–0Vòng loại World Cup 2010
712 tháng 8 năm 2009Sân vận động Lokomotiv, Moscow, Nga Nga1–13–2Giao hữu
824 tháng 5 năm 2010Sân vận động Monumental Antonio Vespucio Liberti, Buenos Aires, Argentina Canada5–05–0Giao hữu
97 tháng 9 năm 2010Sân vận động Monumental Antonio Vespucio Liberti, Buenos Aires, Argentina Tây Ban Nha4–14–1Giao hữu
1020 tháng 6 năm 2011Sân vận động Monumental Antonio Vespucio Liberti, Buenos Aires, Argentina Albania3–04–0Giao hữu
111 tháng 7 năm 2011Sân vận động Ciudad de La Plata, La Plata, Argentina Bolivia1–11–12011 Copa América]]
1211 tháng 7 năm 2011Sân vận động Mario Alberto Kempes, Córdoba, Argentina Costa Rica1–03–0Copa América 2011
132–0
1415 tháng 11 năm 2011Sân vận động Metropolitano Roberto Meléndez, Barranquilla, Colombia Colombia2–12–1Vòng loại World Cup 2014
152 tháng 6 năm 2012Sân vận động Monumental Antonio Vespucio Liberti, Buenos Aires, Argentina Ecuador1–04–0Vòng loại World Cup 2014
1612 tháng 10 năm 2012Sân vận động Malvinas Argentinas, Mendoza, Argentina Uruguay2–03–0Vòng loại World Cup 2014
176 tháng 2 năm 2013Friends Arena, Solna, Thụy Điển Thụy Điển2–13–2Giao hữu
1811 tháng 6 năm 2013Sân vận động Olímpico Atahualpa, Quito, Ecuador Ecuador1–01–1Vòng loại World Cup 2014
1910 tháng 9 năm 2013Sân vận động Defensores del Chaco, Asunción, Paraguay Paraguay2–15–2Vòng loại World Cup 2014
2018 tháng 11 năm 2013Sân vận động Busch, St. Louis, Hoa Kỳ Bosna và Hercegovina1–02–0Giao hữu
212–0
223 tháng 9 năm 2014Esprit Arena, Düsseldorf, Đức Đức1–04–2Giao hữu
2312 tháng 11 năm 2014Boleyn Ground, London, Anh Croatia1–12–1Giao hữu
2431 tháng 3 năm 2015Sân vận động MetLife, East Rutherford, New Jersey, Hoa Kỳ Ecuador1–02–1Giao hữu
256 tháng 6 năm 2015Sân vận động San Juan del Bicentenario, San Juan, Argentina Bolivia2–05–0Giao hữu
263–0
274–0
2813 tháng 6 năm 2015Sân vận động La Portada, La Serena, Chile Paraguay1–02–2Copa América 2015
2916 tháng 6 năm 2015Sân vận động La Portada, La Serena, Chile Uruguay1–01–0Copa América 2015
3030 tháng 6 năm 2015Sân vận động Municipal de Concepción, Concepción, Chile Paraguay5–16–1Copa América 2015
314 tháng 9 năm 2015Sân vận động BBVA Compass, Houston, Hoa Kỳ Bolivia2–07–0Giao hữu
324–0
328 tháng 9 năm 2015Sân vận động AT&T, Dallas, Hoa Kỳ México1–22–2Giao hữu
3410 tháng 6 năm 2016Soldier Field, Chicago, Hoa Kỳ Panama5–05–0Copa América Centenario
3511 tháng 11 năm 2017Sân vận động Luzhniki, Moscow, Nga Nga1–01–0Giao hữu
3614 tháng 11 năm 2017Sân vận động Krasnodar, Krasnodar, Nga Nigeria2–02–4Giao hữu
3729 tháng 5 năm 2018Sân vận động Alberto J. Armando, Buenos Aires, Argentina Nigeria4–04–0Giao hữu
3816 tháng 6 năm 2018Otkrytiye Arena, Moscow, Nga Iceland1–01–1World Cup 2018
3930 tháng 6 năm 2017Kazan Arena, Kazan, Nga Pháp3–43–4World Cup 2018

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]


Atlético Madrid
  • Vô địch UEFA Europa League: 2010

  • Vô địch UEFA Intertoto Cup: 2007

  • Vô địch Siêu cúp châu Âu (UEFA Super Cup): 2010
Manchester City
  • Premier League : 2011-12 , 2013-14 , 2017-18

  • Á quân Premier League: 2013, 2015

  • Á quân The FA Cup: 2013

  • Vô địch cúp liên đoàn (Football League Cup): 2014

  • Vô địch siêu cúp Anh (FA Community Shield): 2012,2018

  • Vô địch Dublin Cup: 2011

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]


ĐT Quốc gia Argentina
  • Vua phá lưới cúp thế giới U-20: 2005

  • Vô địch Thế vận hội: 2008

  • Vô địch cúp thế giới U-20 (FIFA U-20 World Cup): 2005, 2007

  • Á quân cúp thế giới (FIFA World Cup):  2014

  • Á quân Copa America: 2015, 2016

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]


  • FIFA Young Player of the Year: 2007

  • FIFA U-20 World Cup Top Scorer: 2007

  • FIFA U-20 World Cup Player of the Tournament: 2007

  • La Liga Ibero-American Player of the Year: 2008

  • Don Balón Award: 2008

  • Tuttosport Golden Boy: 2007[175][176]

  • Etihad Player of The Year: 2012

  • Etihad Goal of the Season: 2012

  • Premier League Player of the Month: October 2013

  • Football Supporters' Federation Player of the Year: 2014





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét